| Còn thương bụi
chuối sau hè. |
|
| Ngày giỗ chạp, kỵ
cơm, tết nhứt….v.v người Việt chúng ta thường có cúng cơm, và trên bàn thờ
hương án, mâm cỗ cúng lúc nào cũng có nải chuối. Tuy nhiên, không phải loại
chuối nào cũng cúng được; theo những vị cao niên cho biết chuối cúng là loại
chuối Tiêu, hoặc chuối Cau…hoặc có nơi còn gọi là chuối Ngự (Ý nói chuối
tiến cung, dâng cho Vua ngày xưa) Chuối thì chuối nào chẳng được? Một người con nói với bà me như vậy khi hai mẹ con đi chợ mua chuối. Bà mẹ chỉ vào một chiếc bàn trong chợ, nơi đó để rất nhiều nải chuối còn xanh, trái nhỏ (cở ngón chơn cái) mủm mỉm trong dễ thương. Bà nói “Đây là chuối tiêu, chuối này dùng để cúng đó con.” Thì ra là vậy. Người Việt rất cẩn thận trong việc thờ, cúng, lễ, lạy. Nải chuối, trái chuối! Ở Mỹ vào chợ Mỹ như Safeway, Lucky, Nobhill…chỉ thấy một loại chuối, trái to, vàng ươm, và không thấy có nguyên nải mà được cắt ra từng miếng nhỏ vài ba trái, hoặc 5-7 trái (?) Mà chuối dùng để cúng không thể nào dùng được. Cũng thế, khi muốn cúng một con gà, người Việt chỉ đi chợ Việt mới có gà nguyên con- Gà nguyên còn là con gà có đủ tất cả một bộ phận không thiếu. Tuy cũng là gà làm sẵn, nhưng gà trong chợ Mỹ đã bị mất đầu, mất chưn…hoặc từng miếng…v.v. Bờ tre, bụi chuối hai hình ảnh luôn nối liền với quê hương bản quán của người Việt Nam, hay ít ra nó cũng là hình ảnh quê hương trong ý nghĩ của nhiều người dân quê. Cây chuối xanh mơn mởn, hay cây chuối te tua vì "Gió đưa bụi chuối sau hè..." đều có thể làm buồn lòng người mẫn cảm. Nói đến chuối thì ai ai cũng biết, nhưng thử hỏi có bao nhiêu loại chuối, có mấy món ăn liên quan đến chuối thì...Ai dzà! thì có lẽ có người còn ngập ngừng không rõ. Ở Mỹ này, chuối được chở từ Nam Mỹ lên chớ ở Bắc Mỹ làm gì có chuối. Những nải chuối, những trái chuối trông thật là ngon. Những trái chuối đó khi đến tay người tiêu thụ nó đã chín vàng, nhưng thật ra người ta hái và chở đi bán khi nó còn xanh và cho đến lúc tới sạp bán có lẽ cũng gần tháng hoặc hơn. Trái chuối có nhiều chất dinh
dưỡng, tốt cho sức khoẻ; nhưng ở quê nhà trái chuối dường như không được quý
trọng cho lắm. Sau bữa ăn phải có trái táo, trái nho, hay tệ lắm cũng phải
là dâu tây (Đà Lạt)...tráng miệng mới gọi rằng sang, rằng quí...còn tráng
miệng bằng chuối là nhà quê lắm. Thiệt tình mà nói cho ra thì con người ta
khó hiểu lắm. "Đất nước mình nói về chuối thì nhiều lọai, chớ không chỉ có một lọai như ở Mỹ đâu nghen.” Người bạn ngồi chung bàn nói vậy. Anh tiếp “Chuối ở đây kêu bằng chuối "Đổ-lệ". Ăn trái chuối mà nhớ tới quê hương rồi lệ đổ hai hàng”. Anh ví von như vậy cũng có lý do của nó, vì ông chủ hãng chuối tên Dole, trên trái chuối có ghi rõ ràng.) Anh bạn thố lộ tâm tình rằng mỗi khi ăn trái chuối (dù đó là trái chuối chín ép) làm anh liên tuởng đến quê nhà. Anh thường nói với bạn bè: "Đất mình là vương quốc chuối đó mà. Nếu kể về chuối thì... chuối già hương, chuối hột, chuối lá, chuối sứ, chuối ngự, chuối chát, chuối mốc, chuối cau, chuối Đồng Nai và nhiều nữa. " Chuối thiệt là hữu dụng; trái chuối chín ăn đã đành, còn làm các món chuối, thôi thì lủ khủ: nào là chuối chiên, chuối nấu chè, chuối khô, chuối ép, chuối làm kẹo, chuối làm nhưn bánh tét; còn cái bắp ở cuối buồng vẫn kkông bỏ, bào ra ăn sống làm rau ghém thì "hết xảy con cào cào". Có những món ăn như bún bò Huế, bún ốc, bún riêu, mì quảng mà thiếu cái món "bắp chuối" thì ăn mất ngon. Câu chuyện về trái chuối dẫn đưa đến chuyện đời xưa. Anh bạn kể: “Nhớ có lần ở Long Khánh vào một buổi chớm Đông, có chút mưa bay lất phất, có tí đất đỏ bám ở gót dày...” Trí nhớ của anh quay về vùng quá khứ ...”Những ngày mưa gió đó được thưởng thức món bún riêu nhà nghèo ở trước cỗng nhà. Người đàn bà bán bún chỉ cho một ít kinh giới và rau muống chẻ thôi, ăn bún nhà nghèo, nhưng hôm nào bả dặm thêm vài cộng rau thơm và đặt biệt cho thêm một đũa bắp chuối bào...ôi! sao bữa đó món riêu trở nên có vị ngon đằm thắm đặc biệt. Những cọng bắp chuối bào thành từng khoanh nằm trong tô bún. "Khi bào bắp chuối cậu phải ngâm trong nước có tí hàn the để giữ cho cộng bắp chuối không trở nên xám đen xấu xí. " Người đàn bà vui miệng nói với khách hàng như vậy. Mà thật vậy, nhìn những cộng bắp chuối bào có màu trăng trắng, nâu nâu khiêm nhường nằm trộn lẫn trong màu xanh phơn phớt của lá kinh giới, thêm cái xanh đậm đà đằm thắm của lá thơm rau quế; máu trắng trong tinh khiết của giá sống...v.v. một tổng hợp về màu sắc đơn giản, không trau chuốt, không kiểu cọ nhưng không kém phần nghệ thuật. Và anh thêm “mắm muối gia vị rằng: “Làm tôi liên tưởng đến cô gái Bắc với chiếc áo tứ thân, vật áo màu nâu cánh dán, sợi dây màu đọt chuối non với chiếc khăn mỏ quạ, tay vân vê chiếc nón quai thao.” Thật đúng là anh chàng quá giàu óc tưởng tượng. Ôi! Những cô gái đảm đang mà Cụ Tú Vị Xuyên viết ra hình ảnh rằng: “Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông” Ối giời ạ! Chị chủ nhà cười mỉm chi trách yêu. Như được thể, chàng bèn phăng phăng lướt tới: "Trời mưa lác đác rung dâu, Cái nón đi đầu, cái rổ cắp tay. Buớc chân xuống hái dâu này, Nuôi tằm cho lớn có ngày ươm tơ. Thương nhau một chút ban sơ, Lầm than đã trải nắng mưa đã từng. Xa xôi ai có tỏ tường, Gian nan tân khổ ta đừng quên nhau." Chàng ngâm câu ca dao làm mọi
người bật cười. Từ trái chuối, đến cái bắp chuối,
đến tô bún riêu cua làm cho trí nhớ chạy lung tung. Câu chuyện xoay quanh
những người phụ nữ Việt Nam làm cho tôi bỗng nhớ mẹ già còn đang ở bên nhà,
nhớ những ngày "trốn học bị đòn đau, mẹ chưa đánh roi nào đã khóc" (Thơ
Giang Nam), nhớ những ngày mùa nước nổi mẹ chèo xuồng cho con đi học; nhớ
những ngày mẹ tát đìa bị gai cá trê đâm nhức nhối nhưng mẹ vẫn cố nhịn chịu
cơn đau để chuồi người theo con lóc bự đang vùi mình dưới vũng sình. Nhớ cây
bần, cây mắm, nhớ khô sặc nước mắm me. Và nhớ cái hồi năm nẳm, nghe kể rằng
cái hồi bị đói vì người Nhật thu mua lúa, người Việt phải ăn tới củ chuối.
Lại nhớ về cái ngày bị đi tù không có lấy cái củ chuối để ăn. Trồng chuối để lấy trái chuối,
nhưng bên cạnh đó còn bắp chuối, thân cây chuối non ăn sống cũng ngon, khi
trộn nó với các lọai rau khác như: Húng cây, rau quế, kinh giới, tiá tô, rau
ngò, rau ngỗ, đinh lăng, chuối chát, khế chua... thì nó trở thành món không
thể thiếu được khi ăn gỏi cá sống, hay mắm và rau. Anh bạn vỗ đùi cái bốp: "Còn cái này mới ngộ nghen hông, cái bẹ cây chuối đó mà." Thân cây chuối được lớn lên nhờ
những cái bẹ (tách ra khỏi cây nó hơi giống cái máng xối) anh ta kể những
cái bẹ này đem bọc cá lóc mà nướng truôi thêm bánh tráng nè, rau ghém, cuốn
lại như con sâu kèn chấm mắm me thì khỏi chê. Có người còn nói rằng cái bẹ
đó có khả năng làm bay mùi ươn của cá lóc khi mình bọc nó nướng cá. Coi xấu xí làm vậy chớ cây chuối cũng có nhiều công dụng lắm. Nhưng có người họ nói rằng: "Dân mình vì nghèo nên mới ăn bậy ăn bạ chớ ngon cái nỗi gì cái món bắp chuối, bún riêu." Người khác cãi lại: "Người Mỹ họ thích " ham-bơ-gơ”, “hót-đót", người Ý khoái "Bi-xà, bà-ghét-ti", người Mễ Tây Cơ với "Bà-rí-tồ"..v..v..và v.v...thì người Việt thích bún riêu mắm tôm có gì đâu lạ cà?” Ai có phần nấy, nếu mình không ăn được pizza, hamburger thì người ta cũng đâu có quen cà pháo mắm tôm. Người ngoại quốc thích món "Pho" thì mình cũng xơi được "ba-bi-kiu". Hổng có gì lạ hết. Hổng có ai khen mình giỏi vì ăn được đồ người, "đồ" Tây, "đồ" Mỹ và cũng hỗng có gì mắc cỡ, mắc càng khi mình ăn "mắm dzà rau" ăn cá "kho quẹt," hay ngồi lại với nhau nấu món canh rau đay ăn với cà pháo.” Anh cãi mà gân cổ nổi lên như rắn bò. - Ừ thì quyết định như vậy đi! - Chớ sao! “Trời sinh ra đã làm người, Hay ăn hay nói hay cười hay chơi. Khi ăn thì phải lựa mùi, Khi nói thì phải lựa lời chớ sai. Cả vui xin chớ vội cười, Nơi không lễ phép chớ chơi làm gì. Ta không chê của người, Ta không khen của ta. Nhưng dù sao đi nữa, Ta về ta tắm ao ta, Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.” Có người nhạc sĩ (Bắc Sơn) viết
ra bài ca như vầy: "Mẹ kêu cậu tới gần ngồi mẹ nhổ tóc sâu, hai chị em tóc
bạc như nhau...rồi chợt thèm rau đắng nấu canh...” đó là "còn thương rau
đắng mọc sau hè". Cây rau đắng có gì ngon mà mẹ thèm khi mẹ trên đầu đã hai
thứ tóc? Phải chi mẹ thèm nem công chả phụng, trân châu bát bửu, hùng chưởng,
yến sào thì nói làm gì. Mẹ chỉ thèm rau đắng nấu canh. Mẹ ơi! Mẹ có biết ở quê hương mới có rau đắng để nấu canh, và cũng chỉ có quê hương mới có bông so đủa, bông súng, lá giang... và thương quá là thương người mẹ, người cả đời hy sinh cho chồng cho con. Mỗi lần nhớ nhà là người ta hay nghĩ ngay đến mẹ, những người đàn bà xắn quần ống thấp ống cao, đã lo lắng cho chồng, và cho đám nhóc nên người. Không ai không có mẹ? Và bà mẹ nào lại không thương con? Có bao giờ có ai còn hưỡn
đãi với thời gian để nghĩ tới những bụi chuối sau hè, nhớ những bữa canh rau
đắng? Có bao giờ nhìn bụi chuối thấy hình ảnh câm nín của người đàn bà Việt
Nam? “Gió lay bụi chuối sau hè”. Cây chuối không là cái gì trong cái thế
giới bũng nhũng, bèo nhèo này, nhưng cây chuối còn được rung trong gió là
đời sống của con người còn một chỗ để dừng chơn, còn một chỗ để đi về. Khi con suối đã tràn về biển cả, hoà nhập vào chỗ bao la bát ngát của đại dương, với những đợt sóng thần mang bước chân trôi đi muôn phương, ngàn nẻo, chắc nó chẳng còn nhớ tới cái nguồn nơi đã sinh ra vài giọt nước làm nên con suối? "Đêm khuya vằng vặc trăng rằm. Mẹ đi rón rén vào nằm bên con. Cánh tay ngắn ngủn no tròn, Khư khư giữ chiếc gối ôm không rời. Cựa mình nhoẻn miệng thật tươi. Mơ chi trong mng mà cừơi vậy con? Ngoài kia trăng dãi đầu non Trong mơ có thấy trăng tròn quê ta? (Lời Mẹ Ru -Thơ Trương Anh Thụy) Tiếng róc rách của con suối nhỏ
khi len qua từng khe đá như tiếng mẹ ru, tiếng ì ầm khi vượt những thác
ghềnh, qua đồi cao, xuyên trũng thấp như lời la mắng, lời dặn dò lúc con dợm
bước chân đầu tiên vào đời...Như vậy, nhưng con suối lúc nào cũng, dịu dàng,
đằm thắm, và thần tiên như lời ru của mẹ. Nhưng...(lại nhưng) ở một xã hội:
Tiền là tiên là phật, là sức bật của tuổi trẻ, sức khoẻ của tuổi già, là cái
đà cho danh vọng, là cái lọng để che thân, là cái cân của công lý....Thì
chuyện suối, chuyện chuối, chuyện nhớ, chuyện thương, chuyện ân nghĩa, cội
nguồn chắc là vô duyên lắm? Người bạn tôi chợt bật tiếng cười khan khi tự thấy mình "quê một cục". Vốn sinh ra bên dòng sông, lớn lên cùng ruộng lúa, vào đời bằng tiếng à ơi của mẹ, tiếng võng kẻo kẹt buổi trưa hè và thực chất là anh dân ruộng nên nghĩ làm sao thì nói ra làm vậy mà thôi. "Đồng tiền không phấn không hồ, Đồng tiền khéo điểm khéo tô
mặt người" Bây giờ trong cuộc đời ba chìm, bảy nổi và chín cái linh đinh, anh bạn tôi thân thiết đi lại với mấy bà con "bình dân học vụ", thích nói lối, nói vè, nói có vần có điệu của ông cha mình thưở trước. Anh ta rỉ rã ngồi nghe họ kể chuyện đời xưa, được nghe những Lý Cái Mơn, Lý Qua Cầu, Lý quạ kêu... như bài "Lý Giao Duyên".
Đó, người dân quê hiền lành như
cục đất, có sao nói vậy, tấm lòng chơn chất thật thà. Bờ tre bụi chuối giờ
cách xa, có nhớ nhau thôi cũng đành. " Chiều ơi! Chiều chiều chim vịt kêu
chiều, nhớ nồi xôi nếp, nhớ siêu nước chè." Lễ cúng đã tàn cây nhang. Dọn xuống bàn ăn. Mọi người hãy trở về với thực tại của đời sống. Ăn xong còn dọn dẹp nhà cửa vì ngày mai còn phải đi làm. Ừ! Trái chuối ăn ngon, cái vỏ
chuối coi chừng đạp phải “Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài” thì khốn. Lê Bình
|
trang chính | giới thiệu | tổ chức | sinh hoạt | tin tức| hình ảnh | thông báo | hỏi đáp, góp ý | tài liệu | nối kết | liên lạc | trò chơi lớn | sổ tay sinh hoạt